Thuốc điều trị bệnh răng miệng trong thời kỳ mang thai và cho con bú

Mục đích của bài viết này là cung cấp thông tin đã được công nhận bởi Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Thuốc Hoa Kỳ (FDA: Food and Drug Administration), mang lại cái nhìn tổng quát về việc sử dụng thuốc trong nha khoa ở bệnh nhân đang trong giai đoạn mang thai và cho con bú.

Các thông tin được cung cấp trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, mọi quyết định về loại thuốc cũng như liều lượng cần dựa trên chỉ định của bác sĩ. Trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu về những khó khăn khi sử dụng thuốc đối với bệnh nhân đang mang thai và cho con bú

Bệnh nhân đang mang thai

Đối với nhóm bệnh nhân này, có 2 khó khăn thực sự đối với các nha sĩ:

  • Một là, mặc dù các thủ thuật nha khoa có thể được lựa chọn hoặc trì hoãn cho tới hết giai đoạn mang thai, việc điều trị cho các trường hợp cấp tính như đau, nhiễm trùng, giai đoạn tiến triển của các bệnh lý… không được phép trì hoãn.
  • Hai là, không phải tất cả các phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ biết được họ đã mang thai, do đó khi kê đơn thuốc cho bất kì phụ nữ nào đang trong độ tuổi sinh đẻ, các nha sĩ cần hỏi và cân nhắc kĩ càng.

Ngoài việc lưu ý tới các tác dụng phụ của thuốc lên thai nhi, các nha sĩ cần đánh giá về các tình trạng bệnh lý, tiền sử dùng thuốc và hỏi người bệnh 3 câu hỏi sau:

“Có phải bạn đang mai thai?”
“Bạn có biết bạn đang mang thai không?”
“Hai vợ chồng đang có kế hoạch mang thai phải không?”

Các thuốc gây dị tật thai là những thuốc gây cản trở sự phát triển bình thường trong giai đoạn hình thành phôi thai, gây ra các bất thường cho trẻ khi sinh ra (ví dụ như khe hở môi, vòm miệng…).

Nguy cơ cao nhất đối với thai nhi là từ tuần thứ 3 tới tuần thứ 8 sau khi thụ thai. Bên cạnh các dị tật cho thai nhi, tình trạng nhiễm độc của thai nhi có thể xảy ra trong thời gian từ 3 tuần đầu thai kì cho tới khi sinh.

Một ví dụ điển hình là việc sử dụng thuốc chống viêm giảm đau không steroids (NSAIDS) có thể gây suy giảm chức năng thận của thai trong 3 tháng giữa và cuối thai kì, đóng sớm van động mạch ở 3 tháng cuối thai kì.

Do đó việc kê thuốc cho phụ nữ có thai với mục đích chủ yếu là cân nhắc giữa nguy cơ khi dùng thuốc và lợi ích mà thuốc mang lại. Việc này tùy thuộc vào tình trạng của người mẹ (thể trạng, tình trạng bệnh lý..) cũng như giai đoạn nào của thai kì.

Để đánh giá các yếu tố nguy cơ khi sử dụng thuốc khi mang thai, FDA đã phân loại các thuốc dựa trên các mức độ nguy cơ của thuốc lên thai nhi. Thông thường thuốc thuộc nhóm A và B được coi là an toàn, trong khi đó các thuốc nhóm C chỉ nên dùng khi lợi ích điều trị mang lại lớn hơn nguy cơ. Việc sử dụng thuốc nhóm D cần tránh ngoại trừ một số trường hợp ngoại lê, còn các thuốc nhóm X chống chỉ định hoàn toàn cho phụ nữ mang thai.

Như vậy, thuốc loại A là thuốc thuộc loại an toàn cho phụ nữ có thai, nếu thuốc được ghi loại A có nghĩa thuốc dùng được cho phụ nữ có thai (thí dụ như acid folic phải nói là tuyệt đối cần thiết cho phụ nữ có thai, nếu thiếu có thể gây dị tật cho thai nhi).

X là thuốc rất có hại, tuyệt đối không dùng (tức chống chỉ định) cho phụ nữ có thai (thí dụ như thuốc trị ung thư hay thuốc trị mụn trứng cá isotretinoin vì sinh quái thai).

Giữa A và X có 3 loại B, C, D là các thuốc bác sĩ có thể chỉ định cho phụ nữ có thai trong trường hợp cần thiết và phải cân nhắc giữa lợi ích điều trị và nguy cơ gây hại. Thuốc loại B an toàn hơn C, D nghĩa là thuốc loại C bắt buộc dùng phải cân nhắc thật kỹ hơn thuốc loại B và nếu là thuốc loại D thì tốt nhất là không nên dùng (bởi vì kế cận với mức X).

Các vấn đề cần lưu ý khi kê thuốc cho bệnh nhân đang mang thai:

+ Chỉ kê thuốc khi lợi ích của thuốc (cho mẹ) lớn hơn các nguy cơ có thể xảy ra (cho thai)
+ Tránh kê thuốc trong 3 tháng đầu của thai kì
+ Chỉ kê thuốc đã được kiếm chứng rộng rãi ở phụ nữ có thai, không kê các thuốc mới chưa được kiểm chứng rõ ràng + Kê liều tối thiểu mà vẫn đạt được tác dụng như mong muốn

Bệnh nhân cho con bú

Với hầu hết các loại thuốc, trẻ sẽ hấp thu thuốc nhiều hơn khi còn trong bụng mẹ hơn là trong thời kì bú mẹ. Do đó nếu một thuốc được chấp nhận sử dụng trong thời kì mang thai, việc sử dụng thuốc đó trong giai đoạn cho con bú là có thể.

Tuy nhiên vẫn có những ngoại lệ, và các yếu tố quan trọng nhất cần quan tâm đó là nồng độ của thuốc trong máu của trẻ cũng các tác động của chúng. Thời gian bán thải của thuốc ở trẻ nhỏ cũng dài hơn so với mẹ, bởi vì chức năng chuyển hóa của gan chưa hoàn chỉnh. Chính điều này dẫn tới sự tích tụ dần của thuốc ở trẻ, hiện tượng này rất hay gặp khi dùng morphine, phenobarbital, aspirin…

Các vấn đề cần lưu ý khi kê thuốc cho bệnh nhân đang cho con bú:

+ Khuyên bệnh nhân hạn chế tối đa việc cho trẻ hấp thu thuốc khi đang dùng thuốc ví dụ như thời gian và số lần cho con bú, bơm và dự trữ sữa cho con…
+ Hiểu và tư vấn về các tác dụng có thể cho trẻ, dặn dò bệnh nhân theo dõi và đến khám khi có biểu hiện.
+ Điều chỉnh liều lượng thuốc thích hợp

DANH SÁCH CÁC THUỐC AN TOÀN TRONG GIAI ĐOẠN MANG THAI VÀ CHO CON BÚ

Danh sách thuốc và mức độ an toàn khi sử dụng cho bà mẹ

+ Các thuốc không có tên trong danh sách không có nghĩa là không an toàn và không được sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú.
+ Trong trường hợp sử dụng kết hợp các thuốc (ví dụ như oxycodone và acetaminophen), sự an toàn còn tùy thuộc vào tỉ lệ tương quan thành phần thuốc. Vì bản thân oxycodone có nguy cơ cao hơn acetaminophen.
+ Ibuprofen là thuốc đại diện cho nhóm thuốc chống viêm không steroids. Khi đang cho con bú, cần tránh sử dụng các thuốc ức chế chọn lọc enzyme COX (như celecoxib), cũng như tránh sử dụng aspirin liều lượng cao hơn 100mg do nguy cơ gây suy giảm chức năng tiểu cầu và gây ra hội chứng Reye.
+ Penicillins và cephalosporin an toàn đối với phụ nữ có thai và cho con bú. Sử dụng liều cao (cephalexin 500mg, 3 lần/ngày sẽ tốt hơn 250mg 3 lần/ngày) do chúng được đào thải nhanh chóng khỏi cơ thể nhờ sự tăng tốc độ lọc cầu thận ở phụ nữ có thai.

Việc sử dụng kháng sinh không nhất thiết chống chỉ định trong giai đoạn cho con bú

Ngày nay kháng sinh được sử dụng một cách thận trọng hơn trong quá khứ, chính do các nghiên cứu, các bằng chứng về sự tăng đề kháng của vi khuẩn với kháng sinh. Kháng sinh cũng không được chỉ định trong các trường hợp bệnh do virus gây ra, phổ biến là ho và cảm cúm. Tuy vậy, chúng ta vẫn không thể phủ nhận kháng sinh đóng vai trò quan trọng trong việc cứu sống con người.

Việc lựa chọn kháng sinh phụ thuộc vào loại vi khuẩn gây ra bệnh và bác sĩ cũng cần cân nhắc tới các vấn đề khác như tiền sử dị ứng (nếu có)…

Vậy thuốc kháng sinh nào an toàn?

Amoxicillin (Amoxil)
Azithromycin (Zithromax)
Cefaclor (Distaclor)
Cefuroxime (Zinnat)
Cephalexin (Keflex)
Cephradine (Velose)
Clarithromycin (Klaricid)
Amoxicillin+Acid clavulanic (Augmentin)
Ampicillin+Flucloxacillin (Magnapen)
Erythromycin (Erymax, Erythrope, Erythrocin)
Penicillin V (Phenoxymethyl penicillin)
Trimethoprim (Monotrim)

Đối với Metronidazole (Flagyl) khi vào trong sữa mẹ sẽ tạo ra vị khó chịu khiến trẻ bỏ bú, đôi khi màu sữa cũng bị thay đổi. Khi dùng liều lượng 2g duy nhất, mẹ cần ngưng cho trẻ bú trong 24h sau khi dùng thuốc. Khi dùng liều 200-400mg, 3 lần/ngày, trẻ vẫn có thể tiếp tục bú

Khi kê thuốc cho phụ nữ trong giai đoạn mang thai và cho con bú, nha sĩ cần cân nhắc giữa lợi ích cho mẹ cũng như các nguy cơ khi sử dụng thuốc cho thai nhi và trẻ: Điều này cần được giải thích kỹ cho bố mẹ, người thân hiểu và đồng ý mới được sử dụng. Cần đưa ra cái lợi và hại khi có sử dụng và không sử dụng thuốc để người nhà có thể hiểu và chấp nhận.

Bài viết này đã đề cập tới một số thuốc phổ biến trong nha khoa, việc sử dụng cũng như lưu ý khi dùng chúng đối với bệnh nhân đang mang thai và cho con bú. Nha sĩ không những điều trị bệnh mà cần tạo mối quan hệ, sự tin tưởng với bệnh nhân, giúp họ hiểu rõ về lợi ích cũng như nguy cơ của từng loại thuốc trước khi họ sử dụng, chính điều đó mới mang lại sự an toàn thực sự, không những cho bệnh nhân, cho con cái họ mà cho cả bản thân của nha sĩ.

Nguồn:
Donaldson M1, Goodchild JH. Pregnancy, breast-feeding and drugs used in dentistry, Journal of the American Dental Association, 2012 Aug, 143(8):858-71.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments