Tiêu xương trong bệnh nha chu

Định nghĩa : là sự phá huỷ xương do bệnh lý, khác với sự mất xương do nguyên nhân khác. Sự phá huỷ này không hoàn nguyên.

1. KHÁI NIỆM

Điểm chính của nha chu viêm là sự thay đổi của xương ổ răng. Những thay đổi của mô nha chu là quan trọng trong diễn tiến của bệnh, tiêu xương chịu trách nhiệm chính trong việc mất răng. Chiều cao của xương ổ được duy trì do hiện tượng tiêu và tạo xương cân bằng nhau. Tiêu xưong xảy ra khi:

  • Tiêu xương tăng và tạo xương bình thường
  • Tiêu xương bình thường và tạo xương giảm
  • Tiêu xương tăng và tạo xương giảm..

Sự cân bằng giữa 2 yếu tố này được điều hoà bởi yếu tố toàn thân và tại chỗ.

Tiêu xương trầm trọng trong bệnh nha chu

Khi tiêu xương có những trường hợp giảm chiều cao một cách sinh lý xảy ra ở người già đó là tình trạng lão suy. Còn ở bệnh viêm nha chu phá huỷ đó là sự xáo trộn cân bằng.

2. YẾU TỐ CẢN TRỞ TẠO XƯƠNG.

Khả năng phát triển của tạo cốt bào bị giảm.

Khả năng hoạt động của tạo cốt bào để tạo sườn hữu cơ bị giảm.

Có cản trở trong sự vôi hoá sườn hữu cơ.

Tốc độ hoạt động của các tạo cốt  bào chậm.

3. CƠ CHẾ CỦA TIÊU XƯƠNG.

3.1. Giả thuyết tiêu xương ở những điểm yếu.

Tiêu xuơng là do hoạt động của huỷ cốt bào đơn hoặc đa nhân, hoạt động chính xác của nó chưa rõ.

– I-on can xi của muối khoáng nằm trong mô xương bị hoà tan do pH kiềm tại chỗ.

– Huỷ cốt bào phá huỷ khung hữu cơ trước sau đó phóng thích muối canxi.

– Phá huỷ sườn hữu cơ và hoà tan muối khoáng cùng lúc.

– Do sự thay đổi cân bằng sinh lý, sinh hoá tại chỗ đưa đến hiện tượng thực bào những thành phần hữu cơ sau khi bị mất muối vô cơ.

3.2. Trong quá trình tiêu xương có sự tan rã của nhiều thành phần mà không có sự hoạt động của huỷ cốt bào.

Sườn hữu cơ bị mềm, hoá lỏng, phóng thích chất vô cơ. Do sự rối loạn cân bằng sinh lý, sinh hoá bình thường, dẫn đến mô xương biến thành mô liên kết.

3.3. Do áp suất

Áp suất tăng do phù nề ở tại chỗ và do thành mạch để thoát dịch ra ngoài làm thay đổi cân bằng điện giải tại chỗ dẫn đến kích thích hoạt động của huỷ cốt bào.

4. TIÊU XƯƠNG TRONG BỆNH NHA CHU.

4.1. Tiêu xương do viêm.

Viêm kinh niên thông thường là điều kiện tại chỗ dẫn đến tiêu xương, có thể do các cơ chế sau:

– Những chất tiết của viêm làm tăng áp suất tại chỗ, đưa đến tiêu xương.

– Vi trùng và độc tố của nó ảnh hưởng đến tế bào xương.

– Nghẽn tắc của mạch máu, phù nề làm áp suất tại chỗ tăng.

– Gia tăng hoạt động của huỷ cốt bào.

– Mạch máu tăng sinh mở rộng dẫn đến tăng áp suất tại chỗ đưa đến tiêu xương (đó là phản ứng tự nhiên của cơ thể đối với cơ chế viêm).

– Nhiễm trùng, độ pH tại chỗ giảm làm tan rã thành phần vô cơ, phá huỷ của mô liên kết do diếu tố phân huỷ proteine. Nhiễm trùng cũng có thể gây tạo xương tại chỗ (nhiễm trùng mãn tính).

* Vi thể: viêm kinh niên tiến từ nướu vào xương. ở tuỷ xương có tẩm nhuộm bạch cầu, mạch máu tăng sinh, bề mặt của xương có hình vỏ sò.

* Huỷ xương trong bệnh viêm nha chu kinh niên là một dạng hoạt động của tế bào sống, khác hoại thư. Không bắt buộc tiêu xương phải diễn tiến liên tục. Tốc độ huỷ xương thay đổi tuỳ giai đoạn, mức độ nặng nhẹ và thời gian nhiễm trùng. Ở từng người phản ứng của tiêu xương khác nhau và phản ứng cũng khác nhau tuỳ giai đoạn.

Sự hiển diện của tiêu xương cũng như tạo xương do viêm có liên quan đến kết quả điều trị bệnh nha chu viêm.

4.2. Tiêu xương không do viêm.

4.2.1. Tiêu xương do yếu tố toàn thân

Xáo trộn toàn thân có thể gây tiêu xương, hiện tượng này xảy ra ngay sau khi có xáo trộn hoặc làm thay đổi màng nha chu rồi mới dẫn đến tiêu xương.

– Vi thể: do sự tăng hoạt động của huỷ cốt bào ở những điểm yếu hoặc do sự phá huỷ của những chất hữu cơ phóng thích những tế bào xương. Biến mô xương thành mô liên kết, tế bào xương thành tế bào liên kết.

4.2.2. Tiêu xương do chấn thương

Chấn thương khớp cắn lâu ngày không điều trị làm tiêu xương.

– Vi thể: thay đổi màng nha chu, xuát hiện huỷ cốt bào làm tiêu xương bên dưới.

– Trường hợp chấn thương nặng xương bị hoại thư.

Răng bị tiêu xương tuỳ theo vị trí và hướng của lực chấn thương. Tiêu xương xảy ra theo chiều đứng và ở khoảng giữa của hai răng. Tia X phần tiêu xương do chấn thương có hình tam giác đáy quay về phía thân răng.

5. LIÊN QUAN GIỮA TIÊU XƯƠNG VÀ DẤU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHA CHU

5.1. Tiêu xương và viêm nướu.

– Viêm nướu lâu ngày không điều trị đưa đến tiêu xương.

– Tiêu xương nhiều hoặc ít nhanh hoặc chậm không phụ thuộc vào độ nặng nhẹ và thời gian của viêm nướu. Trong vài trường hợp tiêu xương không kèm viêm, sau đó mới có viêm vì nhiễm trùng thứ cấp.

5.2. Túi nha chu và tiêu xương.

Túi nha chu là dấu hiệu lâm sàng quan trọng của bệnh nha chu. Tiêu xương ít hay nhiều và độ sâu của túi không cần đi đôi với nhau.

5.3. Mủ và tiêu xương.

Mủ được thành lập từ vách mô mềm của túi nha chu, tiêu xương không dự phần vào việc thành lập mủ

5.4. Răng lung lay và tiêu xương.

Tiêu xương là yếu tố quan trọng gây lung lay răng. Hai hiện tượng này có thể đi đôi với nhau nhưng cũng có thể không, lung lay răng cũng có thể do những bó sợi của dây chằng nha chu bị phá huỷ kèm với viêm hoặc do chấn thương khớp cắn, do đó độ lung lay của răng không luôn luôn tỷ lệ thuận với tiêu xương. Ví dụ: viêm màng nha chu do áp xe gốc răng cấp tính hoặc trường hợp tiêu xương 1 bên.

Đọc thêm: Implant nha khoa và bệnh về nướu: Tại sao bạn cần một mô nướu khoẻ mạnh

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments