Tiểu phẫu răng khôn nghiêng gần dưới 90 độ

1. Đánh giá phim tia X

Đối với Răng khôn mọc lệch, ấn tượng chẩn đoán tia X gồm 3 điểm sau:

Đường nhai R8 hướng về phía cành cao xương hàm dưới tạo với trục răng một góc lớn hơn 90 độ. Góc này chỉ ra độ nghiêng của răng ngầm.

Bờ xương ổ răng là một đường cong mở rộng từ bờ xương phía xa R8 đến đỉnh xương kẽ răng R7 và R6. Đường này không được lầm lẫn với bờ trước cành cao xương hàm dưới, thường có hình chếch nghiêng. Khi lật vạt niêm mạc
màng xương, phẫu thuật viên có thể thấy cổ răng có vị trí trên bờ xương ổ răng này: phần còn lại của răng nằm trong bao mầm răng

Độ sâu của răng ngầm có liên quan với khoảng cách đường nối men-cement đến gờ xương ổ răng. Nếu toàn bộ răng ngầm nằm chếch về phía gần thì tạo thuận lợi cho việc đặt nạy.

2. Độ khó của phẫu thuật răng khôn nghiêng gần

Sau khi nghiên cứu kỹ phim tia X, phẫu thuật viên cần đánh giá độ khó của cuộc phẫu thuật và có thể quyết định có nên tiến hành phẫu thuật hay không. Độ khó tùy vào vị trí răng và hình thái chân của nó. Cụ thể như sau:

  • Độ sâu của răng nằm trong xương.
  • Khoảng cách giữa R7 và cành cao xương hàm dưới

Độ sâu Răng 8 được đánh giá trong mối quan hệ với R7 (Độ A, B, C hình 4), và nhìn chung cho ta biết lượng xương cần lấy ra. Vì thế, thái độ phẫu thuật tùy thuộc chủ yếu vào những yếu tố này. Nhổ R8 kẹt hàm dưới nếu lấy xương rất ít hay không cần phải lấy xương thì được xem như là nhổ răng thông thường. Trong trường hợp này, một số điều kiện phải có là:

  • Thân R8 ngang thân hay cổ R7.
  • Phần kẹt phía gần ít, nghĩa là góc nghiêng gần trên phim tia X nhỏ.
  • Bờ xương ổ răng phía xa không có khả năng cản trở răng mọc một cách bình thường.
  • Khoảng không gian quanh răng cho phép nạy thân răng về phía xa một cách dễ dàng.
  • Chân răng chụm, ngắn, song song
  • Chân răng không liên quan đến ống thần kinh răng dưới.
Hình 4: Phân Loại độ khó răng không mọc nghiêng gần dưới 90 độ

2.1 Độ A: thân- thân răng

nhổ răng khôn nghiêng gần

Răng kẹt một phần phía gần (loại I hay II), nghĩa là thân gần chạm mặt phẳng nhai. Trong trường hợp này, phẫu thuật hầu như không khó. Trước khi lấy răng, phẫu thuật viên nên khám cẩn thận mối tương quan của răng với bờ xương ổ răng phía xa (cành cao xương hàm dưới).

Răng kẹt một phần phía xa (loại III) phẫu thuật viên có khuynh hướng cắt thân răng.

Răng khôn kẹt một phần phía ngoài (loại II, III). Tùy độ há miệng của bệnh nhân, lấy xương có thể bằng mũi khoan tròn, trụ với tay khoan khuỷu. Xương thành ngoài của ổ răng được lấy đi bằng khoan xương.

Răng khôn nghiêng gần loại II, III thường có chỉ định cắt răng. Nếu chân chia rời nhau, cắt răng dọc theo trục của nó, sâu đến vùng chẽ, rồi sau đó tách chia chân răng. Nếu răng một chân, cắt xương phía xa đến ngang cổ răng.

Tóm lại theo kinh nghiệm của bản thân: Những trường hợp răng khôn nghiêng gần kiểu thân – thân răng này tương đối dễ nhổ. Bao giờ trong quá trình tiểu phẫu đều phải bộc lộ phẫu trường rộng bằng vạt tam giác hoặc hình thang. Sau đó đánh giá xem phía ngoài và phía xa có bị che phủ bởi xương không. Nếu có thì dùng mũi khoan tròn hoặc trụ loại bỏ hết.

Đầu tiên là thử dùng nạy và cảm giác răng có lên được hay không? Nạy lực vừa đủ và ngắt quãng không đặt này vào và dùng hết sức nạy hoặc cố nạy cho ra bởi vì rất dễ bị gãy chân. Trường hợp nạy không ra thì chỉ cần dùng mũi trụ chia chân ngay vùng chẽ và nạy dần từng chân.

2.2 Độ B: thân- cổ răng

Thân R8 nghiêng gần nằm dưới đường vòng lớn nhất của R7, thân R8 tiếp xúc với chân R7. Trường hợp này thường phải cắt R8.

Lấy xương là cần thiết vì răng nằm trong xương hàm dưới. Một số điều lưu ý:

  • Bộc lộ hoàn toàn mặt nhai của răng
  • Bộc lộ hoàn toàn đường vòng lớn nhất của R
  • Thám sát được cổ răng phía gần để tạo điểm đặt nạy.

Cắt răng:

Chia chân từ thân răng (nếu chân chia làm hai) dọc theo trục của thân, từ mặt nhai đến vùng chẽ. Đặt nạy vào khe vừa cắt, tách răng ra làm 2 phần, giúp lấy răng dễ dàng.

Phía gần: Cắt từ giữa răng hướng đến cổ răng phía gần.

Phía xa: Với loại II và III, cắt thân thì ưu tiên hơn cắt xương, đặc biệt khi răng có hướng nghiêng phía lưỡi.

2.3 Độ C: thân- chân răng

Thân răng khôn (phía gần) gần như tiếp xúc với chân R7. Dạng này chân R8 thường đi qua ống thần kinh răng dưới.

Nguyên tắc lấy xương: xác định vị trí bao mầm R, lấy xương mặt ngoài.

Phần răng lồi trên xương ổ răng cho phép phẫu thuật viên tựa vào lấy chân răng.

Khám kỹ tìm các yếu tố sau:

  • Ở bệnh nhân trẻ với nguyên nhân nhiễm trùng là chỉ định nhổ răng hay chân răng chưa phát triển hoàn chỉnh thì mô nha chu R7 nhìn chung sẽ tái sinh tốt. Quan trọng hơn nữa, không có nguy cơ tổn thương thần kinh răng dưới.
  • Nhổ răng với sự hiện diện của nang do răng hay các sang thương khác. Lúc này, lấy răng đồng thời với lấy nang hay giải quyết những thương tổn vùng quanh chân R7.
  • Nên lấy R7 đồng thời với R8 với những trường hợp người lớn tuổi, có thương tổn nha chu R7 (mô nha chu R7 không thể tái sinh sau khi nhổ R8 do mất hết cấu trúc lamina dura).
  • Bảo tồn răng kẹt trong trường hợp răng có màng nha chu mỏng. Vì khi phẫu thuật phải cắt bỏ nhiều xương có thể gây tổn hại chân R7.

Những trường hợp chỉnh nha ở người trẻ tuổi nếu có mầm răng khôn thì theo mình nên tư vấn nhổ bỏ càng sớm càng tốt vì phẫu thuật nhổ mầm răng khôn tương đối dễ hơn nhiều là khi đợi răng khôn hình thành chân mà đặc biệt là bị mọc lệch nữa. Mời các bạn đón xem chỉ định và phương pháp nhổ mầm răng khôn.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments